Năm 2011 du lịch Việt Nam có rất nhiều sự kiện đáng chú ý. Trong số đó, chúng ta không thể không chú ý đến những chuyến thăm bất ngờ của những người nổi tiếng đến Việt Nam.
Anh Đỗ Văn Phương, giám đốc điều hành của khu Catba Sunrise Resort, người đã từng sống ở Úc rất lâu cho biết: “người nước ngoài rất thích những nơi hoang sơ du lich phan thiet, ít bị bàn tay con người tác động. Rất nhiều khu nghỉ dưỡng lý tưởng trên thế giới nhưng đi kèm đó là giá dịch vụ và bị làm phiền”.
Khu du lịch anh Phương quản lý đã từng tiếp nhiều người nổi tiếng đến nghỉ ngơi. Anh Phương có mời họ viết cảm nghĩ lưu lại. Hầu hết đều hài lòng vì sợ bình yên mà họ được hưởng. Phong cảnh và dịch vụ là một phần thu hút những người nổi tiếng, có tiền. Nhưng hầu hết họ đều có cảm nhận chung là họ không bị hỏi han, làm phiền bởi những câu hỏi móc máy đời tư.
< Họ đến Việt Nam và không bị làm phiền đời tư nhiều.
Ở Việt Nam, các sao đi du lịch cũng ít bị cánh săn ảnh của giới truyền thông làm phiền những giây phút riêng tư. Có chăng, lúc họ đến, lúc họ đi, giới truyền thông mới đưa tin họ đã từng đến, từng đi tại khu du lịch.
Như chuyến thăm của gia đình Brangelina hoặc chuyến du lịch mới nhất của Mark Zuckerberg nhân dịp Giáng sinh năm 2011, mọi thông tin của giới truyền thông chỉ thông qua những người gián tiếp từng gặp gỡ những nhân vật này mà không ảnh hưởng đến chuyện riêng tư, mất đi ý nghĩa chuyến đi của họ.
Charle, sinh năm 1981, đang sống ở London cho biết: rất thích Cát Bà, Hạ Long và tất cả bãi biển Việt Nam. Anh cũng bày tỏ: “mặc dù tôi rất không thích cảnh khách du lịch thì bỏ rác vào thùng mà người Việt lại bỏ rác ngoài đường. Tôi cũng không thích cách người ta bỏ mặc tôi khi tôi mua nhầm vé đi từ Cát Bà về Hà Nội, nhưng những khung cảnh tự nhiên của Việt Nam thật sự quyến rũ”.
Việc ông chủ Facebook bất ngờ đến Việt Nam hay việc gia đình nhà Brangelina du lịch tại những điểm nổi tiếng như Hạ Long du lich teambuilding, Côn Đảo đáng để chúng ta phải suy ngẫm. Công nghệ thông tin đã kết nối toàn cầu, không thể nói những người này đến với Việt Nam là chuyện ngẫu nhiên vì họ đều là những người có điều kiện tìm hiểu, đánh giá thông tin hơn ai hết. Nhưng họ đến, và đến lần sau nữa là câu chuyện của tương lai.
< Chuyến đi Việt Nam của Mark hoàn toàn vì lí do nghỉ ngơi, không vì công việc.
Nếu so sánh về chất lượng dịch vụ du lịch tại Việt Nam, một người làm lâu năm trong nghề tour guide đã đánh giá: cực dở. Nhưng về cơ bản, chúng ta có quá nhiều ưu đãi của thiên nhiên: đường bờ biển được đánh giá là đẹp nhất thế giới, có những địa danh được xếp di sản, hoặc không thì cũng cực kỳ quyến rũ. Những thứ thuộc về thiên nhiên nhiều Quốc gia trên Thế giới mơ để phát triển du lịch.
Trở lại với việc những người nổi tiếng đã chọn Việt Nam là điểm đến để nghỉ ngơi, thăm quan, khám phá. Đó là tín hiệu tốt cho du lịch Việt Nam. Theo anh Vượng, người quản lý đảo Nam Cát – Cát Hải – Hải Phòng thì: “Chúng ta không đủ sức đầu tư mạnh mẽ để có những khu nghỉ ngơi sang trọng như các quốc gia trên thế giới đã làm du lich campuchia. Nhưng chúng ta có thể làm với hướng thuận theo thiên nhiên, tôn vinh thiên nhiên để tạo sự khác biệt. Giống như đảo Nam Cát của chúng tôi, từ chỗ ăn, chỗ nghỉ, đồ ăn… đều dân dã theo kiểu địa phương. Khách du lịch nước ngoài rất thích đến và quay lại”.
Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011
Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011
Chùa Thánh Chúa - Chứng tích văn hóa Thăng Long
Chùa Thánh Chúa (Thánh Chúa tự) được dựng trên một gò đất cao vào giữa thế kỷ XI thuộc địa phận thôn Hậu, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Đầu thế XVII một bộ phận thôn Hậu tách ra thành lập xã Mai Dịch. Từ đó đến nay chùa là chung của nhân dân hai xã Dịch Vọng và Mai Dịch du lich phu quoc. Bởi vậy mà nhân dân trong vùng còn lưu lại câu ca:
Mai Hậu cùng chung một ngôi chùa
Qua bao thế kỷ vẫn như xưa
Chùa chính bảy gian hai nhà tổ
Bảy mươi pho tượng mấy lần tô…
Đây là một trong những di tích quý hiếm từ thời Lý còn lại, một chứng tích văn hóa Thăng Long. Hiện nay, do quy hoạch mới chùa Thánh Chúa nằm trong khu vực trường Đại học sư phạm Hà Nội I (Cây số 8 đường Hà Nội – Sơn Tây).
< Cổng chùa.
Chùa Thánh Chúa là một ngôi chùa cổ thờ Phật và Nguyên phi Ỷ Lan. Trong chùa còn một số bút tích và hiện vật quý hiếm nói đến lịch sử ngôi chùa như: câu đối treo ở tiền đường, chuông làm bằng đồng thau niên hiệu Minh Mạng thứ chín (1828), Khánh làm bằng đồng, kiểu cánh dơi, nặng 125 cân, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1845). Chùa gồm nhiều hạng mục công trình như: Cổng Tam quan, gác chuông, tòa Tam Bảo, nhà thờ Mẫu, nhà thờ Tổ, điện thờ Nguyên phi Ỷ Lan.
Sách Đại Viêt sử ký toàn thư, tập một kỷ nhà Lý có chép: “Quí Mão, chương Thánh gia Khánh năm thứ 5 (1064) Tống Gia Hựu năm thứ 8. Bấy giờ vua Xuân Thu đã ngoài 40 tuổi mà chưa có con trai nối dõi, sai tri hậu nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa sau đó Ỷ Lan phu nhân có mang sinh hoàng tử Càn Đức tức vua Lý Nhân Tông (1066 – 1128)”.
Chùa Thánh Chúa là một trong số 100 chùa chiền được Nguyên phi Ỷ Lan tu sửa, nơi đây Nguyên phi và các vị vua nhà Lý thường lui tới để nghiên cứu Phật pháp.
Ngôi chùa còn gắn bó với tuổi thơ của vua Lê Thánh Tông, một vị minh quân, một nhà thơ, nhà văn hóa lớn trong lịch sử của dân tộc. Sử cũ chép lại rằng: đầu thế kỷ XV Nghi Dân có tội với triều đình không được nối ngôi, nên kết bè đảng làm phản du lich thai lan, đang đêm bắc thang vào thành Thăng Long đốt cung điện, vua Lê Thánh Tông lúc bấy giờ còn nhỏ, phải chạy lánh nạn đổi áo ở lẫn với Tăng Tiểu tại chùa Thánh Chúa, sau đó hai tôi trung của triều đình là Nguyễn Xí và Đinh Liệt – danh tiếng từ thời Lê Lợi trừ khử Nghi Dân và đón vua về cung cũ. Điều đáng lưu ý là ở Hà Nội, ngày nay chỉ còn vài nơi in dấu vết vua Lê Thánh Tông đó là: chùa Huy Văn, chùa Ngọc Hồ và chùa Thánh Chúa.
Chùa Thánh Chúa được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 21/11/1989.
Đầu thế XVII một bộ phận thôn Hậu tách ra thành lập xã Mai Dịch. Từ đó đến nay chùa là chung của nhân dân hai xã Dịch Vọng và Mai Dịch du lich phu quoc. Bởi vậy mà nhân dân trong vùng còn lưu lại câu ca:
Mai Hậu cùng chung một ngôi chùa
Qua bao thế kỷ vẫn như xưa
Chùa chính bảy gian hai nhà tổ
Bảy mươi pho tượng mấy lần tô…
Đây là một trong những di tích quý hiếm từ thời Lý còn lại, một chứng tích văn hóa Thăng Long. Hiện nay, do quy hoạch mới chùa Thánh Chúa nằm trong khu vực trường Đại học sư phạm Hà Nội I (Cây số 8 đường Hà Nội – Sơn Tây).
< Cổng chùa.
Chùa Thánh Chúa là một ngôi chùa cổ thờ Phật và Nguyên phi Ỷ Lan. Trong chùa còn một số bút tích và hiện vật quý hiếm nói đến lịch sử ngôi chùa như: câu đối treo ở tiền đường, chuông làm bằng đồng thau niên hiệu Minh Mạng thứ chín (1828), Khánh làm bằng đồng, kiểu cánh dơi, nặng 125 cân, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1845). Chùa gồm nhiều hạng mục công trình như: Cổng Tam quan, gác chuông, tòa Tam Bảo, nhà thờ Mẫu, nhà thờ Tổ, điện thờ Nguyên phi Ỷ Lan.
Sách Đại Viêt sử ký toàn thư, tập một kỷ nhà Lý có chép: “Quí Mão, chương Thánh gia Khánh năm thứ 5 (1064) Tống Gia Hựu năm thứ 8. Bấy giờ vua Xuân Thu đã ngoài 40 tuổi mà chưa có con trai nối dõi, sai tri hậu nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa sau đó Ỷ Lan phu nhân có mang sinh hoàng tử Càn Đức tức vua Lý Nhân Tông (1066 – 1128)”.
Chùa Thánh Chúa là một trong số 100 chùa chiền được Nguyên phi Ỷ Lan tu sửa, nơi đây Nguyên phi và các vị vua nhà Lý thường lui tới để nghiên cứu Phật pháp.
Ngôi chùa còn gắn bó với tuổi thơ của vua Lê Thánh Tông, một vị minh quân, một nhà thơ, nhà văn hóa lớn trong lịch sử của dân tộc. Sử cũ chép lại rằng: đầu thế kỷ XV Nghi Dân có tội với triều đình không được nối ngôi, nên kết bè đảng làm phản du lich thai lan, đang đêm bắc thang vào thành Thăng Long đốt cung điện, vua Lê Thánh Tông lúc bấy giờ còn nhỏ, phải chạy lánh nạn đổi áo ở lẫn với Tăng Tiểu tại chùa Thánh Chúa, sau đó hai tôi trung của triều đình là Nguyễn Xí và Đinh Liệt – danh tiếng từ thời Lê Lợi trừ khử Nghi Dân và đón vua về cung cũ. Điều đáng lưu ý là ở Hà Nội, ngày nay chỉ còn vài nơi in dấu vết vua Lê Thánh Tông đó là: chùa Huy Văn, chùa Ngọc Hồ và chùa Thánh Chúa.
Chùa Thánh Chúa được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 21/11/1989.
Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011
Hành trình khám phá Thất Sơn
Đi "xe ôm" lên đỉnh Cô Tô.
Thất Sơn, cái tên rất quen mà rất lạ. Quen bởi bất cứ ai sống ở Nam bộ đều biết đó là bảy ngọn núi huyền thoại ở tỉnh An Giang gồm: Núi Cô Tô (Phụng Hòang Sơn) Núi Két (Anh Vũ Sơn), Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), Núi dài Nhỏ - Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn), Núi Dài (Ngọa Long Sơn), Núi Tượng (Liên Hoa Sơn), Núi Nước (Thủy Đài Sơn). Lạ vì mấy ai đã được diễm phúc đặt chân tới ngần ấy đỉnh núi
Trên kênh Vĩnh Tế
Trên chiếc du thuyền Khám Phá Mê Kong khởi hành từ bến Đá – Châu Đốc, An Giang, chúng tôi hướng tới huyện Tịnh Biên sau khi rẽ sang kênh Vĩnh Tế - thủy lộ dài gần 100 km, do quan trấn thủ Thoại Ngọc Hầu ( 1761 – 1829) huy động sức người đào – nối Châu Đốc – Hà Tiên đi qua Tịnh Biên theo đường biên giới tây nam, nhờ thế vùng đất dữ Hậu Giang vốn hoang vu đầy rẫy thú dữ và thảo khấu trở nên trù phú, yên bình, đến ngày nay con kênh đào vẫn còn nguyên giá trị.
Những ngọn núi mang tên loài chim
Đúng 14g chúng tôi đặt chân lên những bậc thang đầu tiên núi ông Két,xem du lich phan thiet. Bước thêm vài trăm bậc, vừa đủ để mồ hôi ra đầm đìa thì đến khối đá tròn, có nhiều phiến đá xếp chồng phía trên tạo thành hình đầu chim két, trông rất ngoạn mục. Từ đây, muốn lên chóp đỉnh phải vượt hàng loạt con dốc toàn đá hòn lớn nhỏ dưới tán lá rừng tái sinh, hoặc lom khom chui vào những vòm hàng lộ thiên được tạo dựng nên từ đá chồng.
Không như ngọn núi khác, càng lên cao chóp đỉnh càng bị chia cắt và diện tích thu hẹp dần, tại Núi Két, đỉnh núi là một khoảng sân tương đối bằng phằng tỏa rộng đến tận mép vực theo hai hướng Đông Tây, còn 2 phía Nam Bắc, nổi lên những vồ (chỏm đá khổng lồ nhô ra phía trước) dáng vẻ hùng vỹ.
Men theo cầu thang sắt chênh vênh dẫn lên khối đá cao nhất, tôi mở khởi động GPS thiết bị định vị toàn cầu, sau vài phút chờ dò sóng vệ tinh, trên màn hình hiển thị con số 252 mét so với mặt biển. Không thể tin nổi vì nhiều tài liệu, cả những trang web du lich xác định núi cao 225 mét.
Nhìn phía trước mặt là ngọn núi Dài Nhỏ - Ngũ Hồ Sơn đang tối dần dưới ráng chiều, ngoảnh mặt ra sau là mảng xảnh rộng mát của cây thốt nốt. Nhìn xa hơn chút về hướng Tha La – Châu Đốc dường như chỉ có màu trắng bạc của biển nước mênh mông.
Lên đỉnh núi Cô Tô bằng “xe ôm” đặc chủng!
Qua đêm tại thị trấn Tri Tôn, rạng sáng chúng tôi đã phóng xe rong ruổi gần 20km vòng quanh núi Cô Tô, để tìm đường lên đỉnh núi,xem phan thiet. Nhờ vậy mà được dịp ngắm núi ở mọi góc cạnh cả với dáng hình tựa con chim Phụng đang xoải cánh bay giữa đồng bằng mênh mông. Có điều ở vạc núi chếch về phía tây được ví là đuôi chim Phụng đang bị lở lói từng ngày bởi những tiếng nổ mìn chốc chốc vang lên “uỳnh uỳnh” rung chuyển núi rừng từ những công trường khai thác đá ngày đêm. Khai thác theo kiểu này thì dần dà, cái màu xanh thăm thăm của núi rừng kia sẽ bị xóa trắng và thế hệ sau này chỉ còn biết núi hình chim Phụng trên sách vở.
< Đường lên núi dốc đứng và quanh co...
Có thể phân chia đường lên đỉnh núi Cô Tô thành 2 chặng rành mạch. Chặng thứ nhất, từ Khu Du lịch Soài So phía chân núi tới Sân Tiên nằm ở lưng chừng núi, hầu hết là dốc đứng gần 40 độ, nếu đi bộ khá vất vả lại tốn nhiều thời gian. Còn đi xe ôm, chỉ mất vài chục phút. Chặng thứ hai từ Sân Tiên đến tận đỉnh, địa hình phức tạp nên chỉ có đường mòn dành cho khách hành hương .
Chiếc xe ôm đang đi trên lộ lớn chợt rẽ vào con đường rộng chưa tới 1 mét, cùng lúc Út Liệt, tên người lái xe nhắc tôi hảy ngồi dồn phía trước để cân bằng. Bỗng nhiên, cơ thể tôi tuột hẵn ra sau theo chiều nghiêng góc đồng thời tiếng động cơ gầm rú, tiếng bánh xe nghiến ken két trên mặt đường lát xi măng khiến tôi phản xạ theo quán tính ôm chặt eo Út Liệt, vậy mà vẫn cảm giác sắp rơi xuống đất.
Hóa ra xe đang vượt dốc, thế nhưng diễn biến ấy vẫn không đáng sợ bằng những lúc xe lượn vòng cua tay áo rồi lên tiếp dốc khác cao hơn như cuốn lên trời cao. Thỉnh thoảng xe đột ngột thắng gấp, tấp sát mép vực, để nhường đường cho xe ngược chiều ào ào thả dốc. Nghiệm lại mới thấy, dân Tri Tôn gọi xe ôm núi Cô Tô là loại xe đặc chủng quả không ngoa, bởi để chạy được lên núi, bặt buộc xe phải gắn nhông 13 răng, dĩa 47 răng và “độ” lại máy, chưa kể bố thắng, vỏ xe luôn thay mới.
Hành trình từ Sân Tiên lên Cấp Nhất địa danh chóp đỉnh Cô Tô qua lối mòn dẫn bước đến nhiều triền núi gối lên nhau dưới vườn cây ăn trái chen lẫn rừng trúc, rừng tre Mạnh Tông tạo cảm giác bình yên, thanh thản,xem du lich teambuilding. Đây đó bên đường, con suối chảy róc rách, trong veo như muốn níu chân lữ khách mỗi lúc sức tàn lực kiệt. Và cứ thế cho đến khi chúng tôi chạm tay vào cột mốc 614 mét bằng bê tông được đúc trên tảng đá giữa bốn bề là nắng, gió.
Chốn “thâm sơn cùng cốc...” bỗng ngỡ bồng lai
Chúng tôi xuống núi theo lối mòn phía bắc, hướng tới Vồ Hội một địa danh nồi tiếng trên núi Cô Tô. Sắc thái nơi đây còn đậm chất hoang dã, thuần khiết vì dưới lũng thấp hay trên đồi dốc thoai thoải, nơi đâu cũng mang màu xanh mơn mởn của cây rừng, kể cả con suối vắt ngang lối đi cũng đượm mùi dị thảo. Chợt cảm thấy ấm lòng khi bắt gặp dưới ánh sáng lung linh xuyên kẻ lá thấp thoáng ngôi chùa Bồng Lai rồi Điện Năm Căn cổ xưa khiến chốn thâm sơn cùng cốc bớt đi sự u tịch.
Dân bản địa kể: “Núi rừng Cô Tô thật phóng khoáng, ban tặng cho con người biết bao sản vật. Lúc khát thì có sẵn suối nước trong trẽo, khi đói thì người ta vào rừng hái lượm, trái gió trở trời bị nhuốm bệnh thì lên non tìm cây thuốc, mấy khi túng thiếu thì chỉ cần bỏ công vác cặp tre Mạnh Tông xuống núi là có thể thu về bảy tám trăm ngàn, với người yếu sức trồng cây, làm rẫy, cũng kiếm được mỗi ngày trăm ngàn.
Vồ Hội, một phiến đá rộng rãi, chênh vênh trong khuôn viên chùa Bồng Lai - là nơi khách thập phương cúng bái trên những am thờ lộ thiên, cũng là điểm lý tưởng để ngắm toàn cảnh vùng biên viễn Tây Nam Tổ Quốc: núi Dài, núi Cấm phía Bắc, núi Tà Lơn ở phía Tây và huyện lỵ Trí Tôn trải dài về phía Nam. Thế nhưng, còn một Vồ Hội khi đêm xuống và đón trăng lên.
Trong cuộc đời không biết bao lần tôi ngắm trăng nhưng ngắm trăng ở Vồ Hội giữa không gian cô tịch, gió núi thì rất mơ màng và thi vị,xem du lich campuchia. Đó là một buổi tối, trăng lên muộn lan tỏa ánh sáng dịu dàng lên từng phiến đá, mái chùa, cây cỏ... như khoác lên thế gian một lớp màng mong manh, huyền ảo. Cũng có lúc, vầng trăng chợt lung linh, huyền ảo sau đám sương núi theo cơn gió thỉnh thoảng bay về, rồi lúc ẩn lúc hiện bên những đụn mây trắng bàng bạc đã đưa dòng suy tưởng của tôi như lạc vào cỏi hoang đường.
Thất Sơn, cái tên rất quen mà rất lạ. Quen bởi bất cứ ai sống ở Nam bộ đều biết đó là bảy ngọn núi huyền thoại ở tỉnh An Giang gồm: Núi Cô Tô (Phụng Hòang Sơn) Núi Két (Anh Vũ Sơn), Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), Núi dài Nhỏ - Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn), Núi Dài (Ngọa Long Sơn), Núi Tượng (Liên Hoa Sơn), Núi Nước (Thủy Đài Sơn). Lạ vì mấy ai đã được diễm phúc đặt chân tới ngần ấy đỉnh núi
Trên kênh Vĩnh Tế
Trên chiếc du thuyền Khám Phá Mê Kong khởi hành từ bến Đá – Châu Đốc, An Giang, chúng tôi hướng tới huyện Tịnh Biên sau khi rẽ sang kênh Vĩnh Tế - thủy lộ dài gần 100 km, do quan trấn thủ Thoại Ngọc Hầu ( 1761 – 1829) huy động sức người đào – nối Châu Đốc – Hà Tiên đi qua Tịnh Biên theo đường biên giới tây nam, nhờ thế vùng đất dữ Hậu Giang vốn hoang vu đầy rẫy thú dữ và thảo khấu trở nên trù phú, yên bình, đến ngày nay con kênh đào vẫn còn nguyên giá trị.
Những ngọn núi mang tên loài chim
Đúng 14g chúng tôi đặt chân lên những bậc thang đầu tiên núi ông Két,xem du lich phan thiet. Bước thêm vài trăm bậc, vừa đủ để mồ hôi ra đầm đìa thì đến khối đá tròn, có nhiều phiến đá xếp chồng phía trên tạo thành hình đầu chim két, trông rất ngoạn mục. Từ đây, muốn lên chóp đỉnh phải vượt hàng loạt con dốc toàn đá hòn lớn nhỏ dưới tán lá rừng tái sinh, hoặc lom khom chui vào những vòm hàng lộ thiên được tạo dựng nên từ đá chồng.
Không như ngọn núi khác, càng lên cao chóp đỉnh càng bị chia cắt và diện tích thu hẹp dần, tại Núi Két, đỉnh núi là một khoảng sân tương đối bằng phằng tỏa rộng đến tận mép vực theo hai hướng Đông Tây, còn 2 phía Nam Bắc, nổi lên những vồ (chỏm đá khổng lồ nhô ra phía trước) dáng vẻ hùng vỹ.
Men theo cầu thang sắt chênh vênh dẫn lên khối đá cao nhất, tôi mở khởi động GPS thiết bị định vị toàn cầu, sau vài phút chờ dò sóng vệ tinh, trên màn hình hiển thị con số 252 mét so với mặt biển. Không thể tin nổi vì nhiều tài liệu, cả những trang web du lich xác định núi cao 225 mét.
Nhìn phía trước mặt là ngọn núi Dài Nhỏ - Ngũ Hồ Sơn đang tối dần dưới ráng chiều, ngoảnh mặt ra sau là mảng xảnh rộng mát của cây thốt nốt. Nhìn xa hơn chút về hướng Tha La – Châu Đốc dường như chỉ có màu trắng bạc của biển nước mênh mông.
Lên đỉnh núi Cô Tô bằng “xe ôm” đặc chủng!
Qua đêm tại thị trấn Tri Tôn, rạng sáng chúng tôi đã phóng xe rong ruổi gần 20km vòng quanh núi Cô Tô, để tìm đường lên đỉnh núi,xem phan thiet. Nhờ vậy mà được dịp ngắm núi ở mọi góc cạnh cả với dáng hình tựa con chim Phụng đang xoải cánh bay giữa đồng bằng mênh mông. Có điều ở vạc núi chếch về phía tây được ví là đuôi chim Phụng đang bị lở lói từng ngày bởi những tiếng nổ mìn chốc chốc vang lên “uỳnh uỳnh” rung chuyển núi rừng từ những công trường khai thác đá ngày đêm. Khai thác theo kiểu này thì dần dà, cái màu xanh thăm thăm của núi rừng kia sẽ bị xóa trắng và thế hệ sau này chỉ còn biết núi hình chim Phụng trên sách vở.
< Đường lên núi dốc đứng và quanh co...
Có thể phân chia đường lên đỉnh núi Cô Tô thành 2 chặng rành mạch. Chặng thứ nhất, từ Khu Du lịch Soài So phía chân núi tới Sân Tiên nằm ở lưng chừng núi, hầu hết là dốc đứng gần 40 độ, nếu đi bộ khá vất vả lại tốn nhiều thời gian. Còn đi xe ôm, chỉ mất vài chục phút. Chặng thứ hai từ Sân Tiên đến tận đỉnh, địa hình phức tạp nên chỉ có đường mòn dành cho khách hành hương .
Chiếc xe ôm đang đi trên lộ lớn chợt rẽ vào con đường rộng chưa tới 1 mét, cùng lúc Út Liệt, tên người lái xe nhắc tôi hảy ngồi dồn phía trước để cân bằng. Bỗng nhiên, cơ thể tôi tuột hẵn ra sau theo chiều nghiêng góc đồng thời tiếng động cơ gầm rú, tiếng bánh xe nghiến ken két trên mặt đường lát xi măng khiến tôi phản xạ theo quán tính ôm chặt eo Út Liệt, vậy mà vẫn cảm giác sắp rơi xuống đất.
Hóa ra xe đang vượt dốc, thế nhưng diễn biến ấy vẫn không đáng sợ bằng những lúc xe lượn vòng cua tay áo rồi lên tiếp dốc khác cao hơn như cuốn lên trời cao. Thỉnh thoảng xe đột ngột thắng gấp, tấp sát mép vực, để nhường đường cho xe ngược chiều ào ào thả dốc. Nghiệm lại mới thấy, dân Tri Tôn gọi xe ôm núi Cô Tô là loại xe đặc chủng quả không ngoa, bởi để chạy được lên núi, bặt buộc xe phải gắn nhông 13 răng, dĩa 47 răng và “độ” lại máy, chưa kể bố thắng, vỏ xe luôn thay mới.
Hành trình từ Sân Tiên lên Cấp Nhất địa danh chóp đỉnh Cô Tô qua lối mòn dẫn bước đến nhiều triền núi gối lên nhau dưới vườn cây ăn trái chen lẫn rừng trúc, rừng tre Mạnh Tông tạo cảm giác bình yên, thanh thản,xem du lich teambuilding. Đây đó bên đường, con suối chảy róc rách, trong veo như muốn níu chân lữ khách mỗi lúc sức tàn lực kiệt. Và cứ thế cho đến khi chúng tôi chạm tay vào cột mốc 614 mét bằng bê tông được đúc trên tảng đá giữa bốn bề là nắng, gió.
Chốn “thâm sơn cùng cốc...” bỗng ngỡ bồng lai
Chúng tôi xuống núi theo lối mòn phía bắc, hướng tới Vồ Hội một địa danh nồi tiếng trên núi Cô Tô. Sắc thái nơi đây còn đậm chất hoang dã, thuần khiết vì dưới lũng thấp hay trên đồi dốc thoai thoải, nơi đâu cũng mang màu xanh mơn mởn của cây rừng, kể cả con suối vắt ngang lối đi cũng đượm mùi dị thảo. Chợt cảm thấy ấm lòng khi bắt gặp dưới ánh sáng lung linh xuyên kẻ lá thấp thoáng ngôi chùa Bồng Lai rồi Điện Năm Căn cổ xưa khiến chốn thâm sơn cùng cốc bớt đi sự u tịch.
Dân bản địa kể: “Núi rừng Cô Tô thật phóng khoáng, ban tặng cho con người biết bao sản vật. Lúc khát thì có sẵn suối nước trong trẽo, khi đói thì người ta vào rừng hái lượm, trái gió trở trời bị nhuốm bệnh thì lên non tìm cây thuốc, mấy khi túng thiếu thì chỉ cần bỏ công vác cặp tre Mạnh Tông xuống núi là có thể thu về bảy tám trăm ngàn, với người yếu sức trồng cây, làm rẫy, cũng kiếm được mỗi ngày trăm ngàn.
Vồ Hội, một phiến đá rộng rãi, chênh vênh trong khuôn viên chùa Bồng Lai - là nơi khách thập phương cúng bái trên những am thờ lộ thiên, cũng là điểm lý tưởng để ngắm toàn cảnh vùng biên viễn Tây Nam Tổ Quốc: núi Dài, núi Cấm phía Bắc, núi Tà Lơn ở phía Tây và huyện lỵ Trí Tôn trải dài về phía Nam. Thế nhưng, còn một Vồ Hội khi đêm xuống và đón trăng lên.
Trong cuộc đời không biết bao lần tôi ngắm trăng nhưng ngắm trăng ở Vồ Hội giữa không gian cô tịch, gió núi thì rất mơ màng và thi vị,xem du lich campuchia. Đó là một buổi tối, trăng lên muộn lan tỏa ánh sáng dịu dàng lên từng phiến đá, mái chùa, cây cỏ... như khoác lên thế gian một lớp màng mong manh, huyền ảo. Cũng có lúc, vầng trăng chợt lung linh, huyền ảo sau đám sương núi theo cơn gió thỉnh thoảng bay về, rồi lúc ẩn lúc hiện bên những đụn mây trắng bàng bạc đã đưa dòng suy tưởng của tôi như lạc vào cỏi hoang đường.
Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011
Người Mạ và lễ tạ lộc thọ
"Đã thành hương ước từ ngàn xưa, gia đình nào trong buôn có người thọ trên 70 tuổi là phải làm lễ tạ lộc thọ. Thường việc tổ chức lễ vào mùa xuân đầu năm mới hoặc sau khi thu hoạch vụ mùa xong...".
< Một buổi lễ tạ lộc thọ.
Già làng KMăng, xã Đăk Nia, thị xã Gia Nghĩa, Đăk Nông cho biết: Trước ngày tổ chức lễ tạ lộc thọ, người chủ trong gia đình sẽ đến gặp già làng vừa là xin phép, vừa là mời già đến làm lễ giúp.
Khi được già làng đồng ý, người này về nhà huy động con cháu chuẩn bị những lễ vật, lương thực, thực phẩm gà, lợn, ché rượu cần, gạo nếp loại ngon nhất, rau rừng,,xem du lich phan thiet… để làm món ăn trong ngày cúng; đồng thời phân công người đi báo tin mời bà con, họ hàng trong buôn tham dự.
Trong lễ, ngoài những món ăn truyền thống như cơm lam, canh thịt, thịt nướng… không thể thiếu cây nêu được trang trí hình hài những loài chim, thú rất công phu… để thể hiện sự tôn nghiêm, tôn kính thần linh. Lễ tạ lộc thọ được tổ chức ngay tại gian thờ hoặc sân chính của gia đình.
< Thiếu nữ Mạ.
Vào ngày lành diễn ra lễ tạ, bên cạnh cây nêu là những ché rượu cần được xếp hai bên con gà,xem du lich nha trang… Già làng thực hiện nghi lễ cầu nguyện, cảm ơn Yàng (thần sông, thần núi, thần lúa…) đã mang lại ấm no hạnh phúc cho gia đình, tạ ơn Yàng đã ban cho những người được mừng tuổi, mong phù hộ họ sống lâu trăm tuổi…
Sau lời cúng của già làng, cùng tiếng chiêng trống vang lên rộn rã, rồi thịt gà, heo được mang đến nướng sẵn sàng bên lửa hồng để đãi dòng họ, bà con trong buôn.
Tiếp nghi lễ cúng cầu Yàng, già làng tiến hành nghi thức trao vòng sức khỏe cho người được tạ lộc thọ, đút nắm cơm nếp thơm, uống rượu cần ngon. Cuối cùng, con cháu thực hiện các nghi lễ dâng mừng sức khỏe cho cha mẹ, ông bà, thể hiện sự biết ơn công lao của họ.
Ngày nay, tại buôn của đồng bào Mạ, lễ tạ lộc thọ thường được tổ chức dưới hình thức tập thể chung cho cả buôn làng tại bến nước, đầu làng thành một lễ cúng lớn và trang trọng, cả buôn tham gia. Trong ngày vui đó, tiếng chiêng, tiếng trống là món ăn tinh thần không thể thiếu. Những bài chiêng nói về cuộc sống lao động, sự biết ơn các Yàng sẽ được thể hiện trong suốt ngày diễn ra lễ.
"Cuộc sống thay đổi, những ảnh hưởng của văn hóa hiện đại và phương thức làm ăn mới khiến cho phong tục tạ lộc thọ của người Mạ ta ít nhiều bị mai một,xem du lich teambuilding. Muốn giữ lại những nét đẹp của phong tục ấy chỉ còn cách là thường xuyên tổ chức các buổi lễ, đồng thời nhắc nhở để cháu con không quên, không lơ là với truyền thống văn hóa của cha ông..." - già KTiêng, Nghệ nhân Cồng chiêng có tiếng ở Đăk Nông chia sẻ.
< Một buổi lễ tạ lộc thọ.
Già làng KMăng, xã Đăk Nia, thị xã Gia Nghĩa, Đăk Nông cho biết: Trước ngày tổ chức lễ tạ lộc thọ, người chủ trong gia đình sẽ đến gặp già làng vừa là xin phép, vừa là mời già đến làm lễ giúp.
Khi được già làng đồng ý, người này về nhà huy động con cháu chuẩn bị những lễ vật, lương thực, thực phẩm gà, lợn, ché rượu cần, gạo nếp loại ngon nhất, rau rừng,,xem du lich phan thiet… để làm món ăn trong ngày cúng; đồng thời phân công người đi báo tin mời bà con, họ hàng trong buôn tham dự.
Trong lễ, ngoài những món ăn truyền thống như cơm lam, canh thịt, thịt nướng… không thể thiếu cây nêu được trang trí hình hài những loài chim, thú rất công phu… để thể hiện sự tôn nghiêm, tôn kính thần linh. Lễ tạ lộc thọ được tổ chức ngay tại gian thờ hoặc sân chính của gia đình.
< Thiếu nữ Mạ.
Vào ngày lành diễn ra lễ tạ, bên cạnh cây nêu là những ché rượu cần được xếp hai bên con gà,xem du lich nha trang… Già làng thực hiện nghi lễ cầu nguyện, cảm ơn Yàng (thần sông, thần núi, thần lúa…) đã mang lại ấm no hạnh phúc cho gia đình, tạ ơn Yàng đã ban cho những người được mừng tuổi, mong phù hộ họ sống lâu trăm tuổi…
Sau lời cúng của già làng, cùng tiếng chiêng trống vang lên rộn rã, rồi thịt gà, heo được mang đến nướng sẵn sàng bên lửa hồng để đãi dòng họ, bà con trong buôn.
Tiếp nghi lễ cúng cầu Yàng, già làng tiến hành nghi thức trao vòng sức khỏe cho người được tạ lộc thọ, đút nắm cơm nếp thơm, uống rượu cần ngon. Cuối cùng, con cháu thực hiện các nghi lễ dâng mừng sức khỏe cho cha mẹ, ông bà, thể hiện sự biết ơn công lao của họ.
Ngày nay, tại buôn của đồng bào Mạ, lễ tạ lộc thọ thường được tổ chức dưới hình thức tập thể chung cho cả buôn làng tại bến nước, đầu làng thành một lễ cúng lớn và trang trọng, cả buôn tham gia. Trong ngày vui đó, tiếng chiêng, tiếng trống là món ăn tinh thần không thể thiếu. Những bài chiêng nói về cuộc sống lao động, sự biết ơn các Yàng sẽ được thể hiện trong suốt ngày diễn ra lễ.
"Cuộc sống thay đổi, những ảnh hưởng của văn hóa hiện đại và phương thức làm ăn mới khiến cho phong tục tạ lộc thọ của người Mạ ta ít nhiều bị mai một,xem du lich teambuilding. Muốn giữ lại những nét đẹp của phong tục ấy chỉ còn cách là thường xuyên tổ chức các buổi lễ, đồng thời nhắc nhở để cháu con không quên, không lơ là với truyền thống văn hóa của cha ông..." - già KTiêng, Nghệ nhân Cồng chiêng có tiếng ở Đăk Nông chia sẻ.
Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011
Về Óc Eo thăm chùa Phật Bốn Tay
Từ thành phố Long Xuyên, theo tỉnh lộ 943, băng qua những cánh đồng lúa chín vàng mơ mênh mang tận chân trời, du khách đến thị trấn núi Sập, thủ phủ của huyện Thoại Sơn.
Vượt dòng Thoại Giang đi thêm hơn 10 cây số nữa, ta sẽ tới thị trấn Óc Eo, nơi đây được các nhà khảo cổ xem như là “cái rốn”, trung tâm của nền văn minh, văn hóa Óc Eo.Xem du lich phan thiet
Văn hoá Óc Eo là tên gọi chung của một nền văn minh gắn liền với vương quốc Phù Nam huyền thoại, có địa bàn trải rộng từ Tây đến Đông Nam bộ ngày nay. Trải qua trên dưới một ngàn năm trăm năm với bao biến động của thiên nhiên và lịch sử, nền văn hóa ấy đã bị mai một và dần rơi vào quên lãng.
Ở thị trấn Óc Eo, có một ngôi chùa được người dân gọi bằng cái tên rất ấn tượng là chùa Phật Bốn Tay, tên chữ là “Linh Sơn cổ tự”.
Từ chợ Óc Eo, theo con đường nhựa nhỏ đi vòng hướng đông nam của núi Ba Thê một đỗi, du khách sẽ gặp cổng chùa hiện ra ở mé triền núi. Đầu tiên ta đụng mặt hai chú sư tử bằng sứ màu xanh trên đầu trụ cổng ở vòng thành ngoài, theo nhiều bậc tam cấp, du khách đến cổng chính có hàng chữ “Linh Sơn cổ tự” đỏ chót. Cổng chùa mô phỏng kiến trúc tam quan cổ, có cách tân; hai bên cổng có bốn câu đối và bốn hàng đại tự xiển dương Phật pháp.
Bước vào sân chùa du khách lọt giữa một không gian u tĩnh với rừng cây sao, dầu cao vút, gió núi rì rào, lá khô xào xạc trên lối đi.
Chánh điện chùa Linh Sơn ở Óc Eo thờ pho tượng Phật Bốn Tay. Pho tượng nầy có hình thể và nét mặt không giống như những tượng Phật thường gặp ở đa số các chùa chiền thuộc hệ phái Bắc tông. Tượng Phật Bốn Tay mặc y tiểu thừa, vẻ mặt và hình dạng ngài phốp pháp, sắc màu lam nhã, mắt mở lớn, ngồi kiết già và mỗi tay cầm một linh vật nhỏ. Tay phải trên cầm xâu chuỗi. Tay trái trên bắt ấn, tay phải dưới cầm chuông nhỏ, tay kia cầm trái châu. Đặc biệt ngài có đội chiếc nón như các vị Lạt Ma Tây Tạng. Nguyên tượng bằng đá đen, bán thân, về sau được gia cố thành tư thế ngồi.
Theo lời kể của sư trụ trì Thích Thiện Trí và lời truyền tụng trong dân gian thì vào năm 1913, khi người Pháp cho xe ủi đất làm đường và xây bót Ba Thê dưới chân núi, gần chợ, người ta phát hiện một pho tượng bằng đá đen có bốn tay, cao 1,7 mét, còn nguyên vẹn, nằm sâu dưới mặt đất khoảng 2 mét.
Người Khmer quanh vùng tập họp thanh niên trai tráng khỏe mạnh khiêng tượng về núi để thờ, vì cho đó là tượng Neata Phrom tức thần Núi - theo tín ngưỡng thờ ông Tà của người Campuchia. Nhưng không hiểu vì sao tượng quá nặng, không sao di chuyển nổi. Sau nhờ những bô lão người Kinh đứng ra lập bàn thờ khấn vái. Thật lạ lùng, lúc ấy pho tượng mới được khiêng đi nhẹ nhàng.
Trước đó, hai tấm bia đá bùn cũng đã được tìm thấy. Mỗi bia cao khoảng 1,8 mét, dày khoảng 20 cm, bề ngang khoảng 80 cm. Trên bia có khắc chi chít cổ tự, không ai đọc được. Đặc biệt, khi đặt tượng Phật vào giữa hai tấm bia này thì rất khít khao. Do sự linh ứng ấy, dân chúng quanh vùng góp công của xây dựng chùa Linh Sơn để thờ phụng và cũng từ đó, chùa có tên dân gian là chùa Phật Bốn Tay cho đến ngày nay.
Chùa Phật Bốn Tay có khuôn viên rộng khoảng 4.000 mét vuông. Chánh điện có kiến trúc đơn giản, diện tích chừng 100 mét vuông, quét vôi vàng, mái lợp ngói vảy cá, hai góc mái trước được đắp rồng uốn lượn. Nhưng pho tượng Phật bốn tay được coi là “báu vật” vô giá.
Hòa thượng Thích Thiện Trí trụ trì từ năm 1967 cho biết: chùa Linh Sơn do sư tổ Thiết Ma Nhiên Chánh khai sơn năm 1912, tượng Phật đem về chùa sau một năm (1913). Chùa được trùng tu năm 1983.
Pho tượng Phật bốn tay là một di sản văn hóa Óc Eo, có cùng niên đại với tượng Bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc. Trong các chùa chiền Phật Giáo Việt Nam xưa nay không thấy có thờ tượng Phật bốn tay, chỉ có tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn có 18 tay. Theo các nhà nghiên cứu, thật ra, tượng Phật bốn tay chính là tượng thần Visnu có rắn thần Naga bảy đầu tạo thành tán che phía sau. Riêng hai bia đá có chữ khắc vẫn chưa được giải mã, đây là loại cổ tự có cùng gốc với chữ Brami của người Ấn Độ, được sử dụng từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VI sau công nguyên.
Ở phía sau chùa Phật Bốn Tay, gần di chỉ Nam Linh Sơn (thành cổ Óc Eo) có một cây dầu mọc từ gốc lên bốn nhánh thân suông thẳng đều tỏa ra rất lạ, thon thả như những ngón tay! Dân địa phương gọi cây dầu nầy là cây Bốn Ngón. Cây Bốn Ngón thuộc họ khộp (dầu lông) cao chừng 50 mét, mình trơn. Có người còn cho đó là những ngón tay của Phật (?!).Xem du lich mien bac
Về thành cổ Óc Eo, xem tượng Phật Bốn Tay, cây Bốn Ngón, du khách như ngược về quá khứ, đắm mình trong không gian một thời của vương quốc Phù Nam, nay chỉ còn là huyền thoại.
Vượt dòng Thoại Giang đi thêm hơn 10 cây số nữa, ta sẽ tới thị trấn Óc Eo, nơi đây được các nhà khảo cổ xem như là “cái rốn”, trung tâm của nền văn minh, văn hóa Óc Eo.Xem du lich phan thiet
Văn hoá Óc Eo là tên gọi chung của một nền văn minh gắn liền với vương quốc Phù Nam huyền thoại, có địa bàn trải rộng từ Tây đến Đông Nam bộ ngày nay. Trải qua trên dưới một ngàn năm trăm năm với bao biến động của thiên nhiên và lịch sử, nền văn hóa ấy đã bị mai một và dần rơi vào quên lãng.
Ở thị trấn Óc Eo, có một ngôi chùa được người dân gọi bằng cái tên rất ấn tượng là chùa Phật Bốn Tay, tên chữ là “Linh Sơn cổ tự”.
Từ chợ Óc Eo, theo con đường nhựa nhỏ đi vòng hướng đông nam của núi Ba Thê một đỗi, du khách sẽ gặp cổng chùa hiện ra ở mé triền núi. Đầu tiên ta đụng mặt hai chú sư tử bằng sứ màu xanh trên đầu trụ cổng ở vòng thành ngoài, theo nhiều bậc tam cấp, du khách đến cổng chính có hàng chữ “Linh Sơn cổ tự” đỏ chót. Cổng chùa mô phỏng kiến trúc tam quan cổ, có cách tân; hai bên cổng có bốn câu đối và bốn hàng đại tự xiển dương Phật pháp.
Bước vào sân chùa du khách lọt giữa một không gian u tĩnh với rừng cây sao, dầu cao vút, gió núi rì rào, lá khô xào xạc trên lối đi.
Chánh điện chùa Linh Sơn ở Óc Eo thờ pho tượng Phật Bốn Tay. Pho tượng nầy có hình thể và nét mặt không giống như những tượng Phật thường gặp ở đa số các chùa chiền thuộc hệ phái Bắc tông. Tượng Phật Bốn Tay mặc y tiểu thừa, vẻ mặt và hình dạng ngài phốp pháp, sắc màu lam nhã, mắt mở lớn, ngồi kiết già và mỗi tay cầm một linh vật nhỏ. Tay phải trên cầm xâu chuỗi. Tay trái trên bắt ấn, tay phải dưới cầm chuông nhỏ, tay kia cầm trái châu. Đặc biệt ngài có đội chiếc nón như các vị Lạt Ma Tây Tạng. Nguyên tượng bằng đá đen, bán thân, về sau được gia cố thành tư thế ngồi.
Theo lời kể của sư trụ trì Thích Thiện Trí và lời truyền tụng trong dân gian thì vào năm 1913, khi người Pháp cho xe ủi đất làm đường và xây bót Ba Thê dưới chân núi, gần chợ, người ta phát hiện một pho tượng bằng đá đen có bốn tay, cao 1,7 mét, còn nguyên vẹn, nằm sâu dưới mặt đất khoảng 2 mét.
Người Khmer quanh vùng tập họp thanh niên trai tráng khỏe mạnh khiêng tượng về núi để thờ, vì cho đó là tượng Neata Phrom tức thần Núi - theo tín ngưỡng thờ ông Tà của người Campuchia. Nhưng không hiểu vì sao tượng quá nặng, không sao di chuyển nổi. Sau nhờ những bô lão người Kinh đứng ra lập bàn thờ khấn vái. Thật lạ lùng, lúc ấy pho tượng mới được khiêng đi nhẹ nhàng.Trước đó, hai tấm bia đá bùn cũng đã được tìm thấy. Mỗi bia cao khoảng 1,8 mét, dày khoảng 20 cm, bề ngang khoảng 80 cm. Trên bia có khắc chi chít cổ tự, không ai đọc được. Đặc biệt, khi đặt tượng Phật vào giữa hai tấm bia này thì rất khít khao. Do sự linh ứng ấy, dân chúng quanh vùng góp công của xây dựng chùa Linh Sơn để thờ phụng và cũng từ đó, chùa có tên dân gian là chùa Phật Bốn Tay cho đến ngày nay.
Chùa Phật Bốn Tay có khuôn viên rộng khoảng 4.000 mét vuông. Chánh điện có kiến trúc đơn giản, diện tích chừng 100 mét vuông, quét vôi vàng, mái lợp ngói vảy cá, hai góc mái trước được đắp rồng uốn lượn. Nhưng pho tượng Phật bốn tay được coi là “báu vật” vô giá.
Hòa thượng Thích Thiện Trí trụ trì từ năm 1967 cho biết: chùa Linh Sơn do sư tổ Thiết Ma Nhiên Chánh khai sơn năm 1912, tượng Phật đem về chùa sau một năm (1913). Chùa được trùng tu năm 1983.
Pho tượng Phật bốn tay là một di sản văn hóa Óc Eo, có cùng niên đại với tượng Bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc. Trong các chùa chiền Phật Giáo Việt Nam xưa nay không thấy có thờ tượng Phật bốn tay, chỉ có tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn có 18 tay. Theo các nhà nghiên cứu, thật ra, tượng Phật bốn tay chính là tượng thần Visnu có rắn thần Naga bảy đầu tạo thành tán che phía sau. Riêng hai bia đá có chữ khắc vẫn chưa được giải mã, đây là loại cổ tự có cùng gốc với chữ Brami của người Ấn Độ, được sử dụng từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VI sau công nguyên.Ở phía sau chùa Phật Bốn Tay, gần di chỉ Nam Linh Sơn (thành cổ Óc Eo) có một cây dầu mọc từ gốc lên bốn nhánh thân suông thẳng đều tỏa ra rất lạ, thon thả như những ngón tay! Dân địa phương gọi cây dầu nầy là cây Bốn Ngón. Cây Bốn Ngón thuộc họ khộp (dầu lông) cao chừng 50 mét, mình trơn. Có người còn cho đó là những ngón tay của Phật (?!).Xem du lich mien bac
Về thành cổ Óc Eo, xem tượng Phật Bốn Tay, cây Bốn Ngón, du khách như ngược về quá khứ, đắm mình trong không gian một thời của vương quốc Phù Nam, nay chỉ còn là huyền thoại.
Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011
Phu Văn Lâu - một di tích văn hoá và lịch sử
“Ngọ Môn năm cửa chín lầu/ Cột cờ ba cấp, Phu Văn Lâu hai tầng”. Câu ca dao đã mô tả một cách ngắn gọn nhưng khá đầy đủ và chính xác ba công trình kiến trúc tiêu biểu nhất nằm ở mặt tiền của hệ thống thành quách cung điện Huế.Xem du lich phan thiet
Ngọ Môn là bộ mặt của Hoàng Thành, Đại Nội. Cột cờ hay Kỳ đài là hình ảnh nổi bật nằm ở vị trí trung tâm của cố đô. So với hai công trình kiến trúc ấy thì Phu Văn Lâu chỉ là một tòa nhà tương đối nhỏ. Nhưng, tại sao nó lại được nói lên cùng một lượt, xem như ngang hàng? Chắc hẳn nó phải có một giá trị nào đó về mặt văn hoá và lịch sử.
Theo một số sử sách của quốc sử quán triều Nguyễn thì vào đầu thời Gia Long, khi chưa có tòa nhà như ta đang thấy hiện nay triều đình đã cho xây dựng ở vị trí ấy một ngôi nhà nhỏ gọi là Bảng Đình, “các chiếu thư dụ chỉ đem bá cáo thì treo yết ở đó”.Xem du lich nha trang
Đến tháng 6 năm Gia Long thứ 18 (tháng 7/1819), triều đình cho giải tỏa Bảng Đình ấy đi và xây dựng vào đó tòa nhà hai tầng được đặt tên là Phu Văn Lâu .
Tòa nhà kiến trúc trên một cái nền hình vuông mỗi cạnh 12,24m. Mặt đất của đoạn thành giai này hơi xuôi về phía trước, nên nền cao đến 1,22m ở mặt tiền, còn ở mặt hậu thì nền chỉ cao 1,07m. Mặt nền lát đá cẩm thạch, quanh sân lát gạch Bát Tràng, nhưng nay sân đã thay thế bằng gạch ca-rô đúc bằng xi-măng. Tòa nhà chia làm hai tầng, gồm hai bộ mái chồng lên nhau, dưới lớn trên nhỏ. Mái ngày xưa lợp ngói ống tráng men vàng (hoàng lưu ly) là loại ngói được dùng để lợp cho tất cả các cung điện nằm ở trục chính của Kinh thành.
Tòa nhà có 16 cột gỗ tròn sơn màu đỏ đậm. Bốn cột chính ở giữa chạy liên tục từ trên nền đến nóc tầng trên, cao khoảng 8 mét. Cột gỗ lim, chu vi trung bình 10,7m, 12 cột quần ở chung quanh cao khoảng 3m, có tiết diện nhỏ hơn, chu vi từ 0,95m đến 1m. Mỗi cột nhà đều dựng trên một bệ đá thanh. Những viên đá tảng được chạm thành hai tầng, dưới vuông trên tròn, cao 31cm. Chung quanh mặt nền, xây một hệ thống lan can cao 0,65m, chỉ bị gián đoạn ở các hệ thống bậc thềm giữa 3 mặt trước, trái và phải dùng để lên xuống. Hai lối đi hai bên không có thành bậc thềm. Hai bên hệ thống bậc cấp mặt trước có thành bậc chạm hình rồng. Đứng từ mặt nhìn lên, ta thấy có trần gỗ.
Từ tầng dưới đi lên tầng trên bằng một cầu thang bằng gỗ đặt ở góc phải.
Ở tầng trên, cả 4 mặt đều dựng đố bản, kiểu đố lụa khung tranh. Hai mặt trước và sau trổ cửa sổ tròn, hai mặt trái và phải trổ cửa sổ vuông, đối xứng nhau từng cặp. Chạy quanh bên ngoài là một hệ thống lan can con tiện bằng gỗ trau chuốt thật thanh tú và duyên dáng.Xem du lich ninh chu
Ở nội thất không trần thiết gì, nhưng ngoại thất thì trang trí đẹp. Trên nóc lầu đắp cặp hồi long chầu mặt nhật. Các góc mái chắp hình con giao. Các bờ nóc, bờ quyết đều chia ra từng ô hộc kiểu lòng giếng, trong đó trang trí các thứ hoa lá đắp nổi bằng sành sứ nhiều màu. Trước mặt tầng này treo tấm biển gỗ đề ba chữ Phu Văn Lâu.
Dạng thức cấu trúc tòa nhà nằm trong hệ thống âm dương ngũ hành. Phu Văn Lâu hai tầng tượng trưng cho lưỡng nghi. Ở tầng trên, hai cặp cửa sổ tròn và vuông biểu hiện rõ rệt hình dáng trời và đất: trời tròn đất vuông. Cái nền, bộ phận thấp nhất của tòa nhà, có kích thước hình vuông, cũng tượng trưng cho đất, hình ảnh mặt trời trên nóc tầng hai, bộ phận kiến trúc cao nhất, hình tròn, cũng tượng trưng cho trời. Tòa nhà tuy không lớn nhưng đứng ở một vị trí quan trọng: ngay giữa mặt tiền kinh thành. Bởi vậy, ý niệm kiến trúc mang tính triết lý ấy phải được thể hiện ở đây. Dụng ý của các nhà kiến trúc Việt Nam đầu thế kỷ 19 được thấy rõ hơn qua kiểu xây dựng Kỳ đài và Ngọ Môn nằm trong câu ca dao đã được nhắc đến.
Kỳ Đài ba cấp tượng trưng cho tam tài: thiên, địa, nhân. Ngọ Môn năm cửa biểu hiện ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Như vậy, nếu tính từ ngoài và trong kinh thành thì khái niệm kiến trúc siêu nhiên ấy đã thể hiện từ lưỡng nghi (âm dương) với Phu Văn Lâu, qua tam tài và Kỳ Đài, đến Ngũ hành với Ngọ Môn. Và, nếu nhìn xa hơn một quãng nữa hòn núi Ngự Bình dùng làm tiền án cho đế đô có thể tượng trưng cho thái cực. Phải chăng cả một loạt thực thể và kiến trúc nằm trên trục chính kinh thành Huế đã đi từ thái cực đến lưỡng nghi, rồi qua những yếu tố khác nữa trong hệ thống Thái cực- Lưỡng nghi - tứ tượng - bát quái - vạn vật?
Tóm lại, về mặt kiến trúc, ngoài vẻ đẹp thanh thoát, nhẹ nhàng và tỷ lệ hài hòa cân xứng của nó, Phu Văn Lâu còn mang rõ tính triết lý theo thế giới quan của người xưa nữa.
Trong trận bão lớn năm giáp thìn (1904), Phu Văn Lâu bị hư hỏng hoàn toàn. Năm sau (1905), vua Thành Thái đã cho tái thiết lại theo quy mô cũ. Tấm biển dưới mái lầu mặt trước hiện nay là tấm biển đã được làm lại dưới thời Thành Thái trong lần tu sửa ấy.
Trên biển, ngoài ba chữ đại tự Phu Văn Lâu, còn ghi hai lạc khoản với cỡ chữ nhỏ.
Lạc khoản thứ nhất viết: Gia Long thập bát niên lục nguyệt nhật kiến (nghĩa là xây dựng vào một ngày thuộc tháng 6 năm Gia Long thứ 18, tức là tháng 7/1819).
Lạc khoản thứ hai ghi: Thành Thái thập thất niên nhị nguyệt nhật trùng kiến (nghĩa là xây dựng lại vào một ngày thuộc tháng 2 năm Thành Thái thứ 17, tức là tháng 3/1905).
Trong đợt tái thiết này, ngói ống hoàng lưu ly đã bị thay thế bằng ngói âm dương màu gạch.
Hai lần tu sửa tiếp theo là vào năm 1963 và năm 1974. Trong lần tu sửa 1963, người ta đã dựng hệ thống vách gỗ ở cả bốn mặt tầng trên thay cho đồ bản cũ có cửa sổ tròn và vuông ngày trước; chỉ trổ một cửa lá sách ở giữa mặt tiền, kiểu thượng song hạ bản. Trong lần tu sửa 1974, người ta thay thế một số rui, đòn tay bằng gỗ, lợp lại mái bằng ngói âm dương thông thường: và nhất là thay bốn cột giữa và bốn cột góc bằng bê-tông cốt sắt giả gỗ như ta đang thấy hiện nay. Lần tu sửa gần đây nhất vào cuối năm 1984. Trong đợt này, người ta đã thay thế một cột quân đã mục nát, hai kèo, một số đòn tay và rui đã hỏng vì mái bị thủng. Ngói ở cả hai tầng mái được lợp lại, nhưng diềm mái lại không được tu bổ.Xem du lich da lat
Vậy Phu Văn Lâu là gì? Chữ Phu Văn Lâu thường bị một số người viết nhầm, đọc nhầm là Phú Văn Lâu. Thực ra: Phu là trình bày ra, phô diễn ra. Văn là vẻ đẹp, ý nghĩa bao hàm trong các chữ văn chương, văn nghệ, văn học, văn hoá. Lâu là ngôi nhà lầu, vì nó có hai tầng. Như thế, Phu Văn Lâu là ngôi nhà lầu dùng để phô diễn những cái hay, cái đẹp trong văn hoá, nghệ thuật cho mọi người thưởng ngoạn.
Tòa nhà này đã từng được nhà nước phong kiến giao cho những chức năng như trong nghĩa đen vừa giải thích:
Một là nơi yết thị các chiếu chỉ của triều đình và kết quả các kỳ thi đình; hai là nơi tổ chức các cuộc vui để mừng tuổi thọ của các vua nhà Nguyễn.
Thật vậy, tầng dưới (để trống cả bốn mặt chung quanh, bên trong cũng chẳng trần thiết gì) khi cần, người ta treo lên một tấm bảng sơn son thếp vàng, gọi là Kim bảng hay Bảng vàng, để đính vào đó những chiếu chỉ của nhà vua cần thông báo cho thần dân, hay niêm yết danh sách những sĩ tử thi đỗ tiến sĩ, phó bảng trong các kỳ thi đình (cũng còn gọi là điện thí) được tổ chức ở hoàng cung. Các cuộc sát hạch ở bậc cao nhất này thường diễn ra ở hai nhà Tả Vu, Hữu Vu hoặc Duyệt Thị Đường trong phạm vi Tử Cấm thành. Thông thường nhà vua ra đề thi, chấm bài và quyết định kết quả trong kỳ thi. Các thí sinh trúng tuyển được vua trao tặng lễ phục, vật phẩm và đãi yến tiệc tại điện Cần Chánh, và đôi khi còn được vua cho cưỡi ngựa xem hoa ở vườn ngự uyển.
Hôm sau, triều đình tổ chức cuộc lễ truyền lô tại điện Thái Hòa hay tại Ngọ Môn để xướng danh những người thi đỗ. Tiếp đó, họ được ghi tên trên một tấm bảng lớn gọi là Bảng vàng. Tấm bảng được rước một cách trọng thể đến Phu Văn Lâu để treo yết ở đây cho mọi người đến đọc; có lính canh gác và quan hữu trách túc trực. Sau 3 ngày, tấm bảng ấy lại được rước một cách trọng thể đến trường Quốc Tử Giám để lưu trữ, xem như là một văn vật quý của nhà trường.
Cuối cùng, những người đỗ tiến sĩ còn được khắc tên tuổi và quê quán vào bia đá, dựng ở Văn Miếu bên cạnh trường Quốc Tử Giám. Hiện nay, tại Văn Miếu Huế còn có 32 tấm bia tiến sĩ lập từ các khoa thi từ thời Minh Mạng đến thời Khải Định. Cái tên “Bảng vàng bia đá” là như vậy: “Bảng vàng” treo ở Phu Văn Lâu còn “Bia đá” dựng ở Văn Miếu. Ngoài ra, mỗi lần nhà vua ban chiếu chỉ gì thì văn bản đó cũng đưa ra niêm yết ở Phu Văn Lâu.Xem du lich mien trung
Vào năm 1829, một năm trước khi xây dựng Hổ Quyền - một trường đấu của voi và cọp, Minh Mạng đã cho tổ chức một trận đấu giữa voi và cọp trước Phu Văn Lâu. Nhà vua đã ngồi trên một chiếc thuyền rồng đậu gần bờ sông Hương để xem. Mặc dù con cọp đã bị buộc vào một cái cọc rất chắc, nhưng vì nó mạnh quá nên đã bứt được dây và bơi về phía thuyền vua. Mọi người hoảng hốt. Không có vũ khí trong tay, vua Minh Mạng phải dùng một cái sào để đẩy lùi con vật. Ngay sau đó, mấy người lính nhảy xuống một chiếc thuyền nhỏ tiến đến gần con thú và giết nó chết giữa dòng sông.
Vào năm 1830, nhân dịp Tứ tuần Đại khánh của Minh Mạng, triều đình đã tổ chức ở khu vực Phu Văn Lâu những cuộc vui chơi, yến tiệc trong suốt 3 ngày để chào mừng . Chính nhà vua cũng ngự ra ở Phu Văn Lâu để xem các trò vui chơi đặc biệt do nhiều địa phương về biểu diễn. Trong dịp này, Minh Mạng cho mời 100 vị bô lão ở kinh đô và các tỉnh lân cận có tuổi từ 70 trở lên. Số tuổi của họ cộng lại thành 10.000 tuổi chẵn, tức là 10.000 năm, đúng với ý nghĩa chữ “vạn thọ” để chúc nhà vua sống lâu. Đối với các cụ từ 100 tuổi trở lên, vua thăm hỏi từng người và trao tặng cho họ mỗi vị một lạng quế và một đồng tiền vàng. Sau đó, tất cả các vị kỳ lão ấy đều được nhà vua khoản đãi yến tiệc và chúc mừng họ lại bằng một số bài thơ ngự chế.
Tại Phu Văn Lâu cũng là nơi nhà vua cùng triều thần duyệt khán các đơn vị bộ binh và kỵ binh của triều đình diễu hành. Sau đó vua xuống bến sông Hương để duyệt khán thủy binh, và xem cuộc đua thuyền đầy hào hứng và thú vị ở trên sông.
Theo gương của Minh Mạng, về sau các vua Thiệu Trị và Tự Đức cũng mời các vị kỳ lão về dự các ngày lễ tứ tuần và ngũ tuần của nhà vua. Trong dịp nầy, nhân dân nô nức đến xem các nghệ nhân từ nhiều nơi trên cả nước về biểu diễn trò chơi và ca nhạc vũ ở nhà rạp dựng lên trước bến Phu Văn Lâu. Các cuộc vui công cộng diễn ra ở đây suốt 3 ngày liền.
Vào năm 1843, Thiệu Trị còn cho dựng gần bên phải Phu Văn Lâu một nhà bia nhỏ, trên mặt bia khắc bài “Hương Giang hiểu phiếm”(Đi chơi thuyền buổi sáng trên sông Hương) là bài thứ 11 trong 20 bài thơ nhà vua làm ra để ca ngợi 20 cảnh đẹp nhất của cố đô, gọi là Thần kinh nhị thập cảnh.Xem du lich trong nuoc
Để tăng thêm vẻ uy nghiêm cho Phu Văn Lâu, triều đình đã cho dựng ở hai bên mặt tiền hai tấm bia đá thanh, mỗi bia khắc bốn chữ “khuynh cái hạ mã”, nghĩa là ai đi qua trước mặt tòa nhà này cũng phải cất nón mũ và xuống ngựa. Ở sân trước của Phu Văn Lâu cũng đã thiết trí hai bên hai khẩu súng thần công nhỏ bằng đồng (ngày nay hai tấm bia và hai khẩu súng đều không còn nguyên tại chỗ).
Ngày nay, du khách gần xa đến Huế, ai lại không một lần nhìn ngắm di tích lịch sử và văn hoá ấy của cố đô. Và, ai lại không nghe vang vọng từ đây câu hò mái nhì man mác, gợi lại tấm lòng yêu nước thiết tha của nhân dân ta, mà tương truyền gắn liền với tâm sự vua Duy Tân thuở nọ:
Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu,
Ai sầu ai thảm,
Ai thương ai cảm,
Ai nhớ ai trông,
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.
Ngọ Môn là bộ mặt của Hoàng Thành, Đại Nội. Cột cờ hay Kỳ đài là hình ảnh nổi bật nằm ở vị trí trung tâm của cố đô. So với hai công trình kiến trúc ấy thì Phu Văn Lâu chỉ là một tòa nhà tương đối nhỏ. Nhưng, tại sao nó lại được nói lên cùng một lượt, xem như ngang hàng? Chắc hẳn nó phải có một giá trị nào đó về mặt văn hoá và lịch sử.
Theo một số sử sách của quốc sử quán triều Nguyễn thì vào đầu thời Gia Long, khi chưa có tòa nhà như ta đang thấy hiện nay triều đình đã cho xây dựng ở vị trí ấy một ngôi nhà nhỏ gọi là Bảng Đình, “các chiếu thư dụ chỉ đem bá cáo thì treo yết ở đó”.Xem du lich nha trang
Đến tháng 6 năm Gia Long thứ 18 (tháng 7/1819), triều đình cho giải tỏa Bảng Đình ấy đi và xây dựng vào đó tòa nhà hai tầng được đặt tên là Phu Văn Lâu .
Tòa nhà kiến trúc trên một cái nền hình vuông mỗi cạnh 12,24m. Mặt đất của đoạn thành giai này hơi xuôi về phía trước, nên nền cao đến 1,22m ở mặt tiền, còn ở mặt hậu thì nền chỉ cao 1,07m. Mặt nền lát đá cẩm thạch, quanh sân lát gạch Bát Tràng, nhưng nay sân đã thay thế bằng gạch ca-rô đúc bằng xi-măng. Tòa nhà chia làm hai tầng, gồm hai bộ mái chồng lên nhau, dưới lớn trên nhỏ. Mái ngày xưa lợp ngói ống tráng men vàng (hoàng lưu ly) là loại ngói được dùng để lợp cho tất cả các cung điện nằm ở trục chính của Kinh thành.
Tòa nhà có 16 cột gỗ tròn sơn màu đỏ đậm. Bốn cột chính ở giữa chạy liên tục từ trên nền đến nóc tầng trên, cao khoảng 8 mét. Cột gỗ lim, chu vi trung bình 10,7m, 12 cột quần ở chung quanh cao khoảng 3m, có tiết diện nhỏ hơn, chu vi từ 0,95m đến 1m. Mỗi cột nhà đều dựng trên một bệ đá thanh. Những viên đá tảng được chạm thành hai tầng, dưới vuông trên tròn, cao 31cm. Chung quanh mặt nền, xây một hệ thống lan can cao 0,65m, chỉ bị gián đoạn ở các hệ thống bậc thềm giữa 3 mặt trước, trái và phải dùng để lên xuống. Hai lối đi hai bên không có thành bậc thềm. Hai bên hệ thống bậc cấp mặt trước có thành bậc chạm hình rồng. Đứng từ mặt nhìn lên, ta thấy có trần gỗ.
Từ tầng dưới đi lên tầng trên bằng một cầu thang bằng gỗ đặt ở góc phải.
Ở tầng trên, cả 4 mặt đều dựng đố bản, kiểu đố lụa khung tranh. Hai mặt trước và sau trổ cửa sổ tròn, hai mặt trái và phải trổ cửa sổ vuông, đối xứng nhau từng cặp. Chạy quanh bên ngoài là một hệ thống lan can con tiện bằng gỗ trau chuốt thật thanh tú và duyên dáng.Xem du lich ninh chu
Ở nội thất không trần thiết gì, nhưng ngoại thất thì trang trí đẹp. Trên nóc lầu đắp cặp hồi long chầu mặt nhật. Các góc mái chắp hình con giao. Các bờ nóc, bờ quyết đều chia ra từng ô hộc kiểu lòng giếng, trong đó trang trí các thứ hoa lá đắp nổi bằng sành sứ nhiều màu. Trước mặt tầng này treo tấm biển gỗ đề ba chữ Phu Văn Lâu.
Dạng thức cấu trúc tòa nhà nằm trong hệ thống âm dương ngũ hành. Phu Văn Lâu hai tầng tượng trưng cho lưỡng nghi. Ở tầng trên, hai cặp cửa sổ tròn và vuông biểu hiện rõ rệt hình dáng trời và đất: trời tròn đất vuông. Cái nền, bộ phận thấp nhất của tòa nhà, có kích thước hình vuông, cũng tượng trưng cho đất, hình ảnh mặt trời trên nóc tầng hai, bộ phận kiến trúc cao nhất, hình tròn, cũng tượng trưng cho trời. Tòa nhà tuy không lớn nhưng đứng ở một vị trí quan trọng: ngay giữa mặt tiền kinh thành. Bởi vậy, ý niệm kiến trúc mang tính triết lý ấy phải được thể hiện ở đây. Dụng ý của các nhà kiến trúc Việt Nam đầu thế kỷ 19 được thấy rõ hơn qua kiểu xây dựng Kỳ đài và Ngọ Môn nằm trong câu ca dao đã được nhắc đến.
Kỳ Đài ba cấp tượng trưng cho tam tài: thiên, địa, nhân. Ngọ Môn năm cửa biểu hiện ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Như vậy, nếu tính từ ngoài và trong kinh thành thì khái niệm kiến trúc siêu nhiên ấy đã thể hiện từ lưỡng nghi (âm dương) với Phu Văn Lâu, qua tam tài và Kỳ Đài, đến Ngũ hành với Ngọ Môn. Và, nếu nhìn xa hơn một quãng nữa hòn núi Ngự Bình dùng làm tiền án cho đế đô có thể tượng trưng cho thái cực. Phải chăng cả một loạt thực thể và kiến trúc nằm trên trục chính kinh thành Huế đã đi từ thái cực đến lưỡng nghi, rồi qua những yếu tố khác nữa trong hệ thống Thái cực- Lưỡng nghi - tứ tượng - bát quái - vạn vật?
Tóm lại, về mặt kiến trúc, ngoài vẻ đẹp thanh thoát, nhẹ nhàng và tỷ lệ hài hòa cân xứng của nó, Phu Văn Lâu còn mang rõ tính triết lý theo thế giới quan của người xưa nữa.
Trong trận bão lớn năm giáp thìn (1904), Phu Văn Lâu bị hư hỏng hoàn toàn. Năm sau (1905), vua Thành Thái đã cho tái thiết lại theo quy mô cũ. Tấm biển dưới mái lầu mặt trước hiện nay là tấm biển đã được làm lại dưới thời Thành Thái trong lần tu sửa ấy.
Trên biển, ngoài ba chữ đại tự Phu Văn Lâu, còn ghi hai lạc khoản với cỡ chữ nhỏ.
Lạc khoản thứ nhất viết: Gia Long thập bát niên lục nguyệt nhật kiến (nghĩa là xây dựng vào một ngày thuộc tháng 6 năm Gia Long thứ 18, tức là tháng 7/1819).
Lạc khoản thứ hai ghi: Thành Thái thập thất niên nhị nguyệt nhật trùng kiến (nghĩa là xây dựng lại vào một ngày thuộc tháng 2 năm Thành Thái thứ 17, tức là tháng 3/1905).
Trong đợt tái thiết này, ngói ống hoàng lưu ly đã bị thay thế bằng ngói âm dương màu gạch.
Hai lần tu sửa tiếp theo là vào năm 1963 và năm 1974. Trong lần tu sửa 1963, người ta đã dựng hệ thống vách gỗ ở cả bốn mặt tầng trên thay cho đồ bản cũ có cửa sổ tròn và vuông ngày trước; chỉ trổ một cửa lá sách ở giữa mặt tiền, kiểu thượng song hạ bản. Trong lần tu sửa 1974, người ta thay thế một số rui, đòn tay bằng gỗ, lợp lại mái bằng ngói âm dương thông thường: và nhất là thay bốn cột giữa và bốn cột góc bằng bê-tông cốt sắt giả gỗ như ta đang thấy hiện nay. Lần tu sửa gần đây nhất vào cuối năm 1984. Trong đợt này, người ta đã thay thế một cột quân đã mục nát, hai kèo, một số đòn tay và rui đã hỏng vì mái bị thủng. Ngói ở cả hai tầng mái được lợp lại, nhưng diềm mái lại không được tu bổ.Xem du lich da lat
Vậy Phu Văn Lâu là gì? Chữ Phu Văn Lâu thường bị một số người viết nhầm, đọc nhầm là Phú Văn Lâu. Thực ra: Phu là trình bày ra, phô diễn ra. Văn là vẻ đẹp, ý nghĩa bao hàm trong các chữ văn chương, văn nghệ, văn học, văn hoá. Lâu là ngôi nhà lầu, vì nó có hai tầng. Như thế, Phu Văn Lâu là ngôi nhà lầu dùng để phô diễn những cái hay, cái đẹp trong văn hoá, nghệ thuật cho mọi người thưởng ngoạn.Tòa nhà này đã từng được nhà nước phong kiến giao cho những chức năng như trong nghĩa đen vừa giải thích:
Một là nơi yết thị các chiếu chỉ của triều đình và kết quả các kỳ thi đình; hai là nơi tổ chức các cuộc vui để mừng tuổi thọ của các vua nhà Nguyễn.
Thật vậy, tầng dưới (để trống cả bốn mặt chung quanh, bên trong cũng chẳng trần thiết gì) khi cần, người ta treo lên một tấm bảng sơn son thếp vàng, gọi là Kim bảng hay Bảng vàng, để đính vào đó những chiếu chỉ của nhà vua cần thông báo cho thần dân, hay niêm yết danh sách những sĩ tử thi đỗ tiến sĩ, phó bảng trong các kỳ thi đình (cũng còn gọi là điện thí) được tổ chức ở hoàng cung. Các cuộc sát hạch ở bậc cao nhất này thường diễn ra ở hai nhà Tả Vu, Hữu Vu hoặc Duyệt Thị Đường trong phạm vi Tử Cấm thành. Thông thường nhà vua ra đề thi, chấm bài và quyết định kết quả trong kỳ thi. Các thí sinh trúng tuyển được vua trao tặng lễ phục, vật phẩm và đãi yến tiệc tại điện Cần Chánh, và đôi khi còn được vua cho cưỡi ngựa xem hoa ở vườn ngự uyển.
Hôm sau, triều đình tổ chức cuộc lễ truyền lô tại điện Thái Hòa hay tại Ngọ Môn để xướng danh những người thi đỗ. Tiếp đó, họ được ghi tên trên một tấm bảng lớn gọi là Bảng vàng. Tấm bảng được rước một cách trọng thể đến Phu Văn Lâu để treo yết ở đây cho mọi người đến đọc; có lính canh gác và quan hữu trách túc trực. Sau 3 ngày, tấm bảng ấy lại được rước một cách trọng thể đến trường Quốc Tử Giám để lưu trữ, xem như là một văn vật quý của nhà trường.
Cuối cùng, những người đỗ tiến sĩ còn được khắc tên tuổi và quê quán vào bia đá, dựng ở Văn Miếu bên cạnh trường Quốc Tử Giám. Hiện nay, tại Văn Miếu Huế còn có 32 tấm bia tiến sĩ lập từ các khoa thi từ thời Minh Mạng đến thời Khải Định. Cái tên “Bảng vàng bia đá” là như vậy: “Bảng vàng” treo ở Phu Văn Lâu còn “Bia đá” dựng ở Văn Miếu. Ngoài ra, mỗi lần nhà vua ban chiếu chỉ gì thì văn bản đó cũng đưa ra niêm yết ở Phu Văn Lâu.Xem du lich mien trung
Vào năm 1829, một năm trước khi xây dựng Hổ Quyền - một trường đấu của voi và cọp, Minh Mạng đã cho tổ chức một trận đấu giữa voi và cọp trước Phu Văn Lâu. Nhà vua đã ngồi trên một chiếc thuyền rồng đậu gần bờ sông Hương để xem. Mặc dù con cọp đã bị buộc vào một cái cọc rất chắc, nhưng vì nó mạnh quá nên đã bứt được dây và bơi về phía thuyền vua. Mọi người hoảng hốt. Không có vũ khí trong tay, vua Minh Mạng phải dùng một cái sào để đẩy lùi con vật. Ngay sau đó, mấy người lính nhảy xuống một chiếc thuyền nhỏ tiến đến gần con thú và giết nó chết giữa dòng sông.
Vào năm 1830, nhân dịp Tứ tuần Đại khánh của Minh Mạng, triều đình đã tổ chức ở khu vực Phu Văn Lâu những cuộc vui chơi, yến tiệc trong suốt 3 ngày để chào mừng . Chính nhà vua cũng ngự ra ở Phu Văn Lâu để xem các trò vui chơi đặc biệt do nhiều địa phương về biểu diễn. Trong dịp này, Minh Mạng cho mời 100 vị bô lão ở kinh đô và các tỉnh lân cận có tuổi từ 70 trở lên. Số tuổi của họ cộng lại thành 10.000 tuổi chẵn, tức là 10.000 năm, đúng với ý nghĩa chữ “vạn thọ” để chúc nhà vua sống lâu. Đối với các cụ từ 100 tuổi trở lên, vua thăm hỏi từng người và trao tặng cho họ mỗi vị một lạng quế và một đồng tiền vàng. Sau đó, tất cả các vị kỳ lão ấy đều được nhà vua khoản đãi yến tiệc và chúc mừng họ lại bằng một số bài thơ ngự chế.Tại Phu Văn Lâu cũng là nơi nhà vua cùng triều thần duyệt khán các đơn vị bộ binh và kỵ binh của triều đình diễu hành. Sau đó vua xuống bến sông Hương để duyệt khán thủy binh, và xem cuộc đua thuyền đầy hào hứng và thú vị ở trên sông.
Vào năm 1843, Thiệu Trị còn cho dựng gần bên phải Phu Văn Lâu một nhà bia nhỏ, trên mặt bia khắc bài “Hương Giang hiểu phiếm”(Đi chơi thuyền buổi sáng trên sông Hương) là bài thứ 11 trong 20 bài thơ nhà vua làm ra để ca ngợi 20 cảnh đẹp nhất của cố đô, gọi là Thần kinh nhị thập cảnh.Xem du lich trong nuoc
Để tăng thêm vẻ uy nghiêm cho Phu Văn Lâu, triều đình đã cho dựng ở hai bên mặt tiền hai tấm bia đá thanh, mỗi bia khắc bốn chữ “khuynh cái hạ mã”, nghĩa là ai đi qua trước mặt tòa nhà này cũng phải cất nón mũ và xuống ngựa. Ở sân trước của Phu Văn Lâu cũng đã thiết trí hai bên hai khẩu súng thần công nhỏ bằng đồng (ngày nay hai tấm bia và hai khẩu súng đều không còn nguyên tại chỗ).
Ngày nay, du khách gần xa đến Huế, ai lại không một lần nhìn ngắm di tích lịch sử và văn hoá ấy của cố đô. Và, ai lại không nghe vang vọng từ đây câu hò mái nhì man mác, gợi lại tấm lòng yêu nước thiết tha của nhân dân ta, mà tương truyền gắn liền với tâm sự vua Duy Tân thuở nọ:
Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu,
Ai sầu ai thảm,
Ai thương ai cảm,
Ai nhớ ai trông,
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)

























